MỘT THOÁNG NH̀N VỀ LINH ĐẠO ĐA MINH
Phan Tấn Thành
Như đă nói lần trước, bàn về linh đạo Đa Minh không phải là chuyện đơn giản. Giả như các tác giả không nhất trí trong việc xác định những nét đặc trưng của linh đạo Đa Minh th́ cũng dễ hiểu thôi (bá nhân bá tánh, trăm người trăm ư); nhưng vấn đề trở thành phức tạp hơn khi có ư kiến chủ trương rằng không có linh đạo Đa Minh, bởi v́ Ḍng ta rất bàng bạc, sẵn sàng đón nhận hết mọi điều hay đẹp bất cứ từ đâu đến. Cha Simon Tugwell trưng ra một thí dụ điển h́nh. Vào năm 1928, khi được nhờ viết một bài về linh đạo Đa Minh trong quyển "Những trường phái linh đạo Kitô giáo" (Les Écoles de spiritualité chrétienne) cha Martin Rousseau đă định nghĩa nó với 4 đặc trưng sau đây: công giáo, tôma, phụng vụ và tông đồ (catholique, thomiste, liturgique et apostolique). Thọat nghe th́ tưởng như tác giả nói chơi, bởi v́ bốn đặc trưng ấy đâu phải riêng ǵ của Ḍng Đa Minh? Nhưng nghĩ lại, xem ra tác giả có lư, bởi v́ ḍng Đa Minh không chủ trương chế ra một linh đạo riêng cho ḿnh: mục tiêu của ḍng là phục vụ Tin mừng, phục vụ ṭan thể Hội thánh công giáo cơ mà!
Thực ra, trong cuộc tranh luận về linh đạo Đa Minh, có nhiều lư do đưa tới sự bế
tắc, bắt nguồn từ những khó khăn về từ ngữ, về đối tượng, về phương pháp.
1/ Khó khăn về từ ngữ.
Linh
đạo (Spiritualité) là ǵ? Linh đạo của một Ḍng tu có khác với "đặc sủng"
(charisme) của Ḍng hay không? Có ǵ khác biệt giữa "tinh thần" (esprit) và linh
đạo hay không? Phải chăng linh đạo của Ḍng Đa Minh chỉ gồm phương pháp suy gẫm
cầu nguyện, hay nó c̣n bao hàm cả việc cử hành phụng vụ, học vấn, giảng thuyết
nữa? Cơ cấu tổ chức của Ḍng có thuộc về "linh đạo" hay chỉ là "tinh thần"?
2/ Khó khăn về đối tượng. Dựa vào đâu để khảo sát linh đạo của Ḍng Đa
Minh? Phải chăng chỉ dựa trên "ư định" của thánh Đa Minh khi lập Ḍng, hay c̣n
phải kéo dài ra suốt lịch sử của Ḍng (gần 8 thế kỷ nay)? Phải chăng chỉ giới
hạn vào các anh em, hay phải gồm thêm các chị em và giáo dân của Gia đ́nh Đa
Minh nữa?
3/ Khó khăn về phương pháp. Khi nghiên cứu linh đạo của Ḍng Đa Minh,
chúng ta có thể yên tâm với việc nghiên cứu các bản văn (hiến pháp, quyết nghị
của các tổng hội và tỉnh hội, các tác phẩm bàn về đường nên thánh), hay là cần
phải nghiên cứu cả việc áp dụng trong thực hành nữa? Điều này rất quan trọng đối
với Ḍng Đa Minh, một Ḍng gồm nhiều thuyết gia (suy tư thần học hay giảng
thuyết): nói th́ hay mà làm th́ dở; nói th́ dễ mà làm th́ khó! (Khỏang cách giữa
lư thuyết và thực hành cũng gần bằng từ đất lên trời). V́ thế, khi học hỏi linh
đạo Đa Minh, phải chăng tốt hơn chỉ nên giới hạn vào cuộc đời của những người đă
sống trọn lư tưởng của Ḍng (điển h́nh nơi các vị thánh), chứ không cần đếm xỉa
tới các mớ lư thuyết viển vông? Tuy nhiên, nếu chúng ta chỉ hạn chế vào cuộc đời
của các anh chị em Ḍng đă được đặt lên bàn thờ, th́ e rằng chúng ta sẽ đánh mất
sự đóng góp phong phú của biết bao nhiều tu sĩ Ḍng Đa Minh vào cuộc sống của
Hội thánh. Thực vậy, ngay từ buổi đầu các anh em Đa Minh đă ư thức rằng Ḍng
được thành lập không phải chỉ để giúp nhau nên thánh nhưng c̣n phục vụ ṭan thể
Giáo hội. Biết bao nhiêu anh em đă giảng thuyết hay viết sách để giúp cho các
phần tử Dân Chúa (giáo sĩ triều, nữ tu, giáo dân) sống theo Tin mừng. Những bài
giảng và những tác phẩm đó cũng phải kể vào "linh đạo Đa Minh" nữa chứ? Chính
những tác phẩm ấy làm nên đường nên thánh "dựa theo phương pháp Đa Minh" (cũng
như những con đường dựa theo phương pháp Biển-đức, Cát minh, Phan-sinh, Ư-nhă,
vv).
Mặc dầu cần ghi nhận những khó khăn vừa nói, nhưng không có nghĩa không thể nào bàn đến linh đạo Đa Minh. Thay v́ mất thời giờ tranh luận, tôi xin chọn một hướng khác. Trong mục "T́m hiểu Ḍng Đa Minh", tôi muốn giới thiệu vài khuôn mặt đă để lại nhiều ảnh hưởng đối với linh đạo Đa Minh: xin tạm gọi họ là các bậc thầy (cô) của linh đạo Đa Minh.
Trước tiên, tôi xin dựa theo một nhóm tác giả (Henri-Dominique Simonin,
Raphael-Louis Oechslin, Stephanus G. Axters, Domenico Abbrescia, Joseph
Perinelle, Vicente Beltrán de Heredia, Hieronymus Wilms, Walter Gumbly) biên
sọan từ Frères Prêcheurs cho từ điển Dictionnaire de Spiritualité (tome V, Paris
1964, col.1422-1524) để giới thiệu vài nét chính của lịch sử linh đạo Đa Minh,
đặc biệt lưu ư đến những khuôn mặt nổi bật (in đậm) sẽ được tŕnh bày trong các
bài kế tiếp. Chúng ta sẽ có dịp nhận xét tính cách đa dạng của "trường phái Đa
Minh", với nhiều khuynh hướng khác nhau, vừa bắt nguồn từ các nền văn hóa khác
biệt (chẳng hạn: Italia, Đức, Pháp, Tây ban nha), vừa do sự tiếp thu các trào
lưu thuộc những thời đại khác nhau. Tuy nhiên, giữa sự đa dạng (hay "bàng bạc",
một hồng ân của Chúa Thánh thần, nguồn mạch các đặc sủng), vẫn có thể t́m được
vài nét cấu thành "mẫu số chung" của con người Đa Minh.
Chúng ta hăy rảo qua vài giai đọan chính: 1/ Thế kỷ đầu tiên của Ḍng. 2/ Thế kỷ XIV. 3/ Thời kỳ phong trào Cải cách (tk XV-XVI). 4/ Thời cận đại
I. THẾ KỶ ĐẦU TIÊN CỦA D̉NG
Chúng tôi xin miễn bàn về lư tưởng của Ḍng do thánh Đa Minh phác họa. Chỉ cần
ghi nhận sự nhận xét của cha Simon Tugwell, theo đó thánh Đa Minh không đi từ
một kế họach tiền chế, nhưng Người đă biết linh động thích ứng tùy theo t́nh
h́nh biến đổi. Khi so sánh bộ mặt của Ḍng lúc người qua đời (1221) với linh ứng
của thuở đầu (1206), ta thấy có sự khác biệt không nhỏ. Nói cách khác, linh đạo
Đa Minh nằm ở chỗ uyển chuyển chứ không đóng khung cứng nhắc.
A. Công tŕnh của cha Đa Minh được tiếp tục bởi những vị kế nhiệm tài ba:
Giorđanô (1222-37), Raymunđô (1238-40), Gioan Teutônicô (1241-52), và đặc biệt
là cha Humbertô de Romans (1254-63). Tuy không dám so sánh công lao giữa các vị
vừa kể, nhưng dưới khía cạnh tư liệu th́ phải nhận là cha Humbertô đă để lại
nhiều bút tích hơn cả khi bàn về chân dung lư tưởng của tu sĩ Giảng thuyết.
Những bản chú giải Hiến pháp, Tu luật, các chức vụ, các lời khấn, được xuất bản
chung thành hợp tuyển De Vita regulari, cung cấp cho hậu thế nhiều dữ kiện để
phác họa những nét chính của linh đạo Ḍng Đa Minh: một nhà giảng thuyết đắm
ch́m trong chiêm niệm. Mặc dù các từ ngữ "giảng thuyết" và "chiêm niệm" đă lưu
hành trong văn chương Kitô giáo từ lâu đời, nhưng chúng đă được "tô điểm" dưới
sáng kiến của thánh Đa Minh. Sự giảng thuyết chú trọng đến việc tŕnh bày chân
lư đức tin. Nhất là sự giảng thuyết lấy đối tượng là chính Phúc âm. Chính v́ thế
sự giảng thuyết đ̣i hỏi tính nhất quán giữa lời nói và cuộc sống. Một cách tương
tự như vậy, việc chiêm niệm được nuôi dưỡng không những bằng sự suy gẫm mà c̣n
bằng việc phụng vụ, việc học hỏi, việc khổ chế. Tất cả những hành vi vừa nói
nhằm đào tạo cho người tu sĩ trở thành "miệng của Chúa", khí cụ ngoan ngơan của
Thánh thần. Thực vậy, sự giảng thuyết (giảng Lời Chúa) là một ân huệ của Thánh
thần: gratia praedicationis. Một môi trường khác để huấn luyện chiêm niệm và
giảng thuyết đời sống huynh đệ cộng đ̣an: chiều kích huynh đệ chi phối từ việc
cầu nguyện phụng vụ, cho đến việc học hành, việc tuân giữ các lời khuyên Phúc âm,
cũng như cách thức quản trị và ngay chính công tác giảng thuyết.
B. Ng̣ai việc giảng thuyết tại các nhà thờ, các tu sĩ Đa Minh đă sớm thêm một "giảng
đài" nữa, đó là các đại học, với các giáo sư như là Hugues de Saint-Cher,
Albertô Cả. Nên biết là chương tŕnh giáo huấn tại các phân khoa thần học không
phải là các giáo tŕnh khô khan, nhưng là các lớp chú giải Kinh thánh. Các
"cours" của các giáo sư cũng là một thứ "bài giảng" nếu chưa phải là "sách dẫn
đường trọn lành".
Nhận xét vừa kể lại càng đúng với thánh Tôma Aquinô (+1274), một người đă để lại
ảnh hưởng sâu đậm cho lịch sử linh đạo của Ḍng cũng như của ṭan thể Hội thánh
qua các tác phẩm của ḿnh (gồm các quyển chú giải Kinh thánh, các bộ tổng luận
thần học, các bài giảng, các khảo luận). Nên biết là Tôma không những chỉ là một
thuyết gia về đường nên thánh, mà c̣n là một thánh nhân. Tôma là một người đă
thực hành những lư thuyết mà ḿnh đă xướng lên; hay nói ngược lại cũng chẳng sai:
một người đă viết lên từ kinh nghiệm bản thân về sự kết hiệp với Chúa. Thánh
Tôma đă giúp cho Ḍng nhận ra đặc sủng của ḿnh ở chỗ kết hiệp chiêm niệm với
họat động qua công thức Contemplata aliis tradere (Summa Theologica II-II,
q.188,a.6). Thánh Tôma cũng lái các họat động của Ḍng theo chiều hướng "truy
tầm chân lư" (say mê học hành), đặt việc tông đồ đạo lư vào hàng đầu trong các
hoạt động của Ḍng. Dù sao, ảnh hưởng của thánh Tôma không chỉ giới hạn trong
nội bộ của Ḍng Giảng thuyết; các tác phẩm của ngài hướng đến ṭan thể dân Thiên
Chúa.
C. Điều này lại càng rơ rệt hơn khi chúng ta xét đến các tác phẩm tu đức do các
anh em Giảng thuyết biên sọan, thuộc nhiều lọai:
1- Những quyển thủ bản về các nhân đức và nết xấu: Summa de virtutibus et de
vitiis, giúp cho các cha giải tội (bất luận Ḍng Triều), chẳng hạn như của
Guillaume Perrault, hoặc của thánh Raymonđô Penafort (Summa de poenitentia).
2- Hạnh tích các vị thánh, nổi tiếng nhất là Legenda aurea của Giacôbê Varazze (chân
phước Jacobus a Voragine, +1298, lễ kính 13/7). Tác giả đă thu thập các bài
giảng thành 3 bộ sưu tập (Sermones de sanctis, Sermones de tempore, Sermones
quadragesimales); nhưng tác giả lưu danh cho hậu thế nhờ cuốn Legenda sanctorum,
mà không thư viện nào thời Trung cổ có thể thiếu, nhưng công tŕnh của chatrở
nên sách gối đầu giường của
3- Các sách dọn bài giảng (sermones), hoặc dưới dạng chú giải Thánh kinh, hoặc
dưới dạng tích tóp (Liber de exemplis, Summa de exemplis et rerum
similitudinibus), chẳng hạn như của Nicolas de Hanapes (+1291), Jean de San
Gimignano.
D. Vào cuối thế kỷ XIII, chúng ta thấy không có một khuôn mẫu duy nhất của con
người Đa Minh, nhưng lư tưởng của Ḍng Giảng thuyết được diễn tả với những "típ"
khác nhau (tạm gọi là những "chuyên ngành" của Ḍng)
1- Những nhà giảng thuyết đức tin tại các thánh đường hay các quảng trường.
Trong hàng ngũ này không thiếu kẻ tử đạo tựa như thánh Phêrô Vêrôna (+1252).
Công tác giảng thuyết bao gồm cả việc hướng dẫn các linh hồn, đặc biệt nhờ tác
vụ giải tội.
2- Những nhà giảng thuyết tại các trường đại học. Đầu óc chúng ta nghĩ ngay đến
Albertô (1206/7-80), Tôma Aquinô.
3-Những nhà truyền giáo cho lương dân, điển h́nh nơi thánh Giacintô (+1257), đi
giảng đến tận biển Baltique và dọc xuống Kiev. Những biên cương truyền giáo được
mở sang miền Đông Âu: Hy lạp, Armêni, và sự thành lập Societas fratrum
peregrinantium đưa anh em sang Armêni và vùng Tiểu Á. Tại miền Nam châu Âu, cha
Raymond Penafort (+1275) đẩy mạnh công cuộc truyền giáo cho người Hồi giáo và
người Do thái.
II. THẾ KỶ XIV
A. Sau thời hoàng kim của thế kỷ đầu tiên, bước sang thế kỷ XIV những dấu hiệu
sa sút đă bắt đầu xuất hiện. Nguyên nhân của hiện tượng này khá phức tạp, bởi v́
phần th́ bắt nguồn từ nội bộ của Ḍng, phần khác th́ do ḥan cảnh thời thế.
1- Xét về những nguyên nhân nội bộ, có lẽ chính động lực đưa Ḍng đến chỗ vinh
quang cũng chính là động lực đưa Ḍng xuống dốc. Thử hỏi: một khi anh em được
Ṭa thánh tín nhiệm, cử làm Hồng y, Đặc sứ, Giám mục, vv, th́ làm sao duy tŕ
nếp sống khó nghèo đạm bạc, chăm lo sách đèn như trước? Vả lại, thật là khó khi
dung ḥa hai nếp sống chiêm niệm và họat động: người tu sĩ Đa Minh ru rú trong
nhà như đan sĩ cũng phản bội ơn gọi không kém ǵ nhà giảng thuyết lang thang tối
ngày đến độ không c̣n biết chi đến đời sống cộng đ̣an! Tu sĩ Đa Minh luôn bị
giằng co giữa hai thái cực đó. Thêm vào đó, sự miễn chuẩn (một đặc trưng của
Ḍng) là một con dao hai lưỡi: nó giúp cho các tu sĩ không rơi vào nạn vụ luật,
nhưng nó cũng có thể góp phần vào sự tháo khóan!
2- Xét về nguyên nhân ngọai tại, đời sống đạo đức của thế kỷ XIV bị chi phối bởi
hai hiện tượng: a/ Nạn dịch đen (1347-1349) đă cứơp đi hàng triệu sinh mạng,
khiến cho các tu viện cũng thoi thóp (ước lượng từ 12 ngàn xuống c̣n chừng 6
ngàn). b/ Việc giáo ḥang dời đô về Avignon (1309-1376), kéo theo sự phân chia
hai triều giáo ḥang (1378-1417), cũng ảnh hưởng đến kỷ luật và sự thống nhất
trong Ḍng (Giáo hội có hai giáo triều th́ Ḍng cũng có hai tổng quyền: Avignon
/ Rôma.
B. Tuy nhiên, chính trong ḥan cảnh sa sút đó mà phong trào chấn hưng đă được
gợi lên. Thánh nữ Catarina Siêna là một khuôn mặt nổi bật, thúc đẩy Giáo ḥang
chấn hưng Giáo hội, và đồng thời thúc đẩy cha Raymonđô Capua lănh đạo cuộc chấn
hưng Ḍng.
1- Catarina (1347-1380) không những là một người họat động nhưng trước đó c̣n là
một nhà thần bí: họat động bắt nguồn từ chiêm niệm. Tuy lư tưởng đồng nhất với
Đa Minh và Tôma, nhưng Catarina cũng đă phát biểu theo đặc sủng của ḿnh.
Catarina có can đảm dám phát biểu trước triều Giáo ḥang (Grêgôriô XI và Urbanô
VI), th́ chị đâu có sợ ǵ khi lên tiếng nhắc nhở các anh em Ḍng Giảng thuyết
hăy sống trọn lư tưởng của ḿnh? Trong sách Đối thọai (chương 158)Catarina đă mô
tả đặc sủng của Ḍng bằng những công thức bất hủ như là: "Sứ vụ Lời Chúa" (Officium
Verbi), "t́nh yêu chân lư" (caritas veritatis).
2- Dưới sự hướng dẫn của cha Raymunđô Capua (+1399, lễ kính 5/10), công cuộc
chấn hưng bắt đầu cách tiệm tiến: từ một vài tu viện, rồi đến vài hội ḍng (Congregationes
reformatae, một thực thể tương đương với tỉnh ḍng), phong trào lan ra ṭan Ḍng.
Trong số những anh em đầu tiên hưởng ứng sáng kiến của cha Raymonđô, cần nhắc
đến tên tuổi của: chân phước Gioan Dominici (+1419, lễ kính 10/6), thánh
Antoninô (+1459, lễ kính 10/5), Beato Angelico (+1455, lễ kính 18/2). Một khuôn
mặt của nhóm đă gây ra nhiều tranh luận là cha Hiêrônimô Savonarola (+1498),
thuộc thế kỷ XV, khi phong trào đă bành trướng sang Tây ban nha, Pháp, Ḥa lan,
Đức, và c̣n kéo dài cho tới thế kỷ XVII. Nên biết là các phong trào chấn hưng
nhấn mạnh đến việc tuân giữ kỷ luật, nếp sống khổ chế, thanh bần. Đời sống cầu
nguyện cũng được đề cao.
C. Bên cạnh bức tranh vừa tối vừa sáng vừa nêu, thế kỷ XIV c̣n ghi nhận một đóng
góp độc đáo không những cho gia sản linh đạo Đa Minh mà c̣n cho ṭan lịch sử
linh đạo Kitô giáo, với nhóm mệnh danh là Trường phái sông Rhin: Eckhart
(+1327/8), Jean Tauler (+1361), Henri Suso (+1366). Họ đề cao việc chiêm niệm
Chúa Ba Ngôi, một mầu nhiệm vừa cao sâu vừa nội tại trong chính linh hồn; họ
nhấn mạnh đến sự từ bỏ ḿnh như là bước đầu dẫn tới chiêm niệm. Cách riêng,
Henri Suso cổ vơ ḷng sùng kính nhân tính đau khổ của Chúa Giêsu cũng như ḷng
tôn kính Đấng Khôn ngoan. Nói cách khác, trường phái sông Rhin đă bổ túc thêm
chiều kích "t́nh cảm" và "thanh luyện" cho truyền thống Đa Minh, vốn nặng về trí
thức.
D. Một nhân vật xuất hiện vào khúc quặt giữa thế kỷ XIV và thế kỷ XV là thánh
Vinh sơn Ferrer (1350-1419): cha đă làm sống lại đặc sủng giảng thuyết của Ḍng
vào thời buổi khủng hỏang của Hội thánh. Bắt đầu sứ vụ linh mục với công tác
giảng dạy, cha rời bỏ sách đèn để dấn thân vào cuộc giảng thuyết lưu động tại
Tây ban nha, Pháp, Thụy sĩ. Tất cả kinh nghiệm về việc hướng dẫn các linh hồn
được thu thập trong tác phẩm "Luận về đời sống thiêng liêng" (De vita spirituali),
được tái bản hơn 40 lần.
III. THỜI KỲ CẢI CÁCH (THẾ KỶ XV-XVI)
A. Phong trào Cải cách của Lutêrô, với sự ly khai của nhóm Tin Lành, đă để lại
nhiều dấu tích trong lịch sử Hội thánh cận đại. Đừng kể sự chia rẽ trong nội bộ
của Hội thánh, nhiều Ḍng tu công giáo ở vùng Trung và Bắc Âu đă bị giải tán.
B. Ḍng Đa Minh đă hưởng ứng chiều hướng Cải cách trong nội bộ Giáo hội công
giáo do công đồng Trentô đề xướng.
1- Nhiều tu sĩ Đa Minh đă tham dự công đồng Trentô (1542-63), và đă góp phần
tích cực vào việc sọan thảo các văn kiện công đồng: Melchior Cano (+1560),
Domingo de Soto (+1560). Đức Piô V (1566-1572) là giáo ḥang đă mang thực thi
các quyết nghị của công đồng.
2- Trước và sau công đồng, các tu sĩ Đa Minh đă cộng tác với nhiều vị sáng lập
hay canh tân các Ḍng tu, chẳng hạn như tại Italia, cha Battista da Crema
(+1554) với thánh Gaetanô (sáng lập ḍng Teatinô), Antôniô Maria Zaccaria (sáng
lập ḍng Barnabiti). Thiết tưởng không nên bỏ qua thánh nữ Catarina Ricci
(+1590), một nữ tu nhà kín nhưng liên lạc thư từ với mọi cấp bậc chức sắc trong
Giáo hội: Piô V, Carlô Borromêo, Philippê Nêri, Maria Maria Mađalêna Pazzi. Bên
Tây ban nha, thánh Têrêsa Avila đă bàn hỏi chuyện linh hồn với các cha Pedro
Ibanez (+1565), Domingo Banez (+1604). Thánh Inhaxiô Loyola cũng đă được nhiều
cha Đa Minh nâng đỡ vào lúc thành lập Ḍng Tên.
C. Cách riêng, đối với sinh họat nội bộ của Ḍng, nên ghi nhận vài điểm sau đây.
1- Học thuyết thánh Tôma trở thành đạo lư chính thức của Ḍng.
2- Trong Giáo hội, việc cử hành phụng vụ đă dần dần nhường bước cho các việc đạo
đức b́nh dân. Người ta bắt đầu chú trọng đến việc phân tích tâm lư trong đường
đạo đức (chặng đường suy gẫm). Ḍng Đa Minh cũng đón nhận các trào lưu đó:
a) Chúng ta đă có dịp bàn đến nguồn gốc kinh Mân côi, nhờ sự cổ động của cha
Alain de la Roche (+1475). Cuộc chiến thắng Lêpantô càng góp phần vào việc
truyền bá kinh Mân côi, nhất là do đức giáo ḥang Piô V O.P (+1572). Các anh em
đă viết nhiều tác phẩm giúp các tín hữu suy gẫm các mầu nhiệm kinh Mân côi,
chẳng hạn như Albertô da Castello (+1522).
b) Ng̣ai hội Mân côi, các tu sĩ Đa Minh c̣n cổ động các Hội thánh danh Chúa
Giêsu (1571), Hội Thánh thể (tu viện S. Maria sopra Minerva, năm 1538). Tại
Italia, cha Inhaxiô Del Nente đă viết nhiều tác phẩm cổ động ḷng tôn kính Thánh
thể, Thánh Tâm Chúa Giêsu. Bên Pháp, một tác giả nổi tiếng về việc suy gẫm sự
thương khó Chúa là cha Louis Chardon (1595-1651).
3- Do ảnh hưởng của Ḍng Tên (tổng quyền Nicolas Ridolfi nguyên là học tṛ của
các cha Ḍng Tên +1650), các tổng hội năm 1647 (Valencia), 1650 (Roma), 1656
(Roma) truyền mỗi năm phải cấm pḥng 10 ngày (annua 10 dierum recollectio).
Trước đó, việc suy gẫm (oratio mentalis, chuyển hướng từ orationes secretae) hai
lần mỗi ngày (mỗi lần ít là 15 phút: ad minus per quadrantem horae) đă được thực
hiện theo chỉ thị của tổng hội 1564 (Bologna), 1571 (Roma), 1574 (Barcelona).
Mặt khác, các cha Đa Minh cũng không thua kém ai trong việc biên sọan các sách
bàn về việc suy gẫm (phương pháp cũng như chất lượng).
Luis de Granada (+1588), với các tác phẩm được thánh Têrêsa Avila giới thiệu cho
các đan viện Cát minh: Libro de la oración y meditación, và Guia de pecadores.
D. Từ thế kỷ XVI, Ḍng Đa Minh đă đặt cơ sở tại Mỹ châu. Ng̣ai những khuôn mặt
thánh thiện của Rosa Lima (+1617), Martinô Porres (+1639), người ta không thể bỏ
qua cha Bartôlômêo de Las Casas (+1566), một người bênh vực quyền lợi của các
thổ dân.
Cũng vào giai đọan này, nhiều phái đ̣an truyền giáo hướng về Á châu, tới tận miền Viễn đông (Trung hoa, Nhật bản), với nhiều thánh tử đạo (Alfonso de Navarrete +1617 tại Nhật bản, Francisco de Capillas +1648 tại Trung Hoa).
IV. THỜI CẬN ĐẠI
A. Những cuộc cách mạng chính trị tại châu Âu (khởi đầu từ 1789 tại Pháp) đă dẫn
đến sự giải tán các Ḍng tu. Trong các thế kỷ gần đây, tại Pháp và các nước láng
giềng (Italia, Tây ban nha, Đức, Bỉ), các tu sĩ đă nhiều lần nếm cảnh trục xuất
và tái lập, do ảnh hưởng của nhiều trào lưu chính trị khác nhau (cách mạng Pháp,
Napoleon, đảng tự do, phong trào bài giáo sĩ, vv...)
B. Mặt khác, các tu sĩ Đa Minh cũng tham dự vào các cuộc tranh luận đạo lư bắt
nguồn từ các phong trào tu đức: Jansénisme, quiétisme, gallicanisme.
C. Sang thế kỷ XIX, những khuôn mặt góp phần vào công cuộc tái thiết Ḍng tại
Pháp (với những ảnh hưởng sang các nước láng giềng) là cha Henri Lacordaire
(1802-1861). Cha Lacordaire là một nhà giảng thuyết nổi tiếng, cũng như những
nhà giảng thuyết kế tiếp tại nhà thờ Đức Bà Paris, với các cha Monsabré (+1907),
cha Janvier. Tại giảng đài này, họ đă mang đạo lư thánh Thômas áp dụng vào đời
sống đạo cho hết mọi tầng lớp Giáo hội.
Công cuộc phục hưng Ḍng (trở về nguồn, xét về tinh thần cũng như về đạo lư thánh Tôma) của cha Lacordaire được tiếp nối nơi các đồng chí: Vincent Jandel (+1872), Hyacinthe Cormier (+1916).
D. Vào thế kỷ XX, Ḍng đă cung cấp vài học giả nổi tiếng về thần học tu đức,
chẳng hạn: Juan Gonzalez Arintero (+1928), Ambroise Gardeil (+1931), Réginald
Garrigou-Lagrange (+1964), M.M. Philippon (+1972). Các ngài đă lănh đạo một "trường
phái Đa Minh" chủ trương tất cả các tín hữu được kêu gọi vào đời chiêm niệm (đối
lại với "trường phái Ḍng Tên", đại diện nơi cha De Guibert, hạn chế sự chiêm
niệm cho một thiểu số). Lập trường của Ḍng Đa Minh đă mở đường cho công đồng
Vaticanô II (Hiến chế về Hội thánh, chương 5: tất cả các Kitô hữu được mời gọi
nên thánh).
Ngoài ra, các cha Đa Minh c̣n điều khiển vài tạp chí về tu đức (mở rộng cho hết
mọi tầng lớp Dân Chúa) như: La Vie Spirituelle (Paris Octobre 1919-), Vita
cristiana (Firenze 1929, đổi tên thành Rivista di ascetica e mistica năm 1956,
và Rassegna di ascetica e mistica, để rồi lại trở về với danh hiệu cũ), LaVida
sobrenatural (Salamanca 1921-), Teologia espiritual (Valencia 1957-), Cross and
Crown (do tỉnh ḍng Albert Hoa kỳ phát hành từ năm 1949, đổi thành Spirituality
Today, và chấm dứt từ 1992), Doctrine and Life (Ailen), Dominican Ashram (Ấn độ).
Mặt khác, ng̣ai linh đạo hướng về "sự kết hiệp thần bí" theo nghĩa cổ truyền,
cần ghi nhận chiều hướng linh đạo hướng về dấn thân xă hội, phục vụ người nghèo,
khởi đầu từ các "linh mục thợ" bên Pháp, và phát triển nơi các thần học phát
triển, công bằng xă hội (chẳng hạn cha Louis Joseph Lebret (1897-1966), cố vấn
cho Đức Phaolô VI trong việc thảo thông điệp Populorum Progressio).
Kết luận
Điểm qua các trào lưu và khuôn mặt khác nhau suốt gần 800 năm lịch sử, liệu có
thể vạch ra một mẫu số chung làm nên "linh đạo Đa Minh" hay không? Như đă nói ở
đầu, có người trả lời có, có người trả lời không. Chúng ta đă nói qua lư do của
ư kiến trả lời "không". Đối lại, trong số ư kiến "có", chúng ta có thể lấy một
thí dụ điển h́nh nơi quyển sách Dominican Spirituality. Principles and Practice
của cha William A. Hinnebusch (Washington DC, 1984), được Nhóm Tài liệu của tỉnh
ḍng dịch ra tiếng Việt năm 1994.
May thay, giữa hai thái cực đó không phải là không có những ư kiến trung dung!
Trong phần kết luận từ Frères Prêcheurs trong từ điển "Dictionnaire de
Spiritualité", cha R. Oechslin đă ghi nhận một vài nét làm nên tinh thần Đa Minh
(esprit dominicain), hay là cái hồn của linh đạo (l'âme de la spiritualité
dominicaine), bắt nguồn từ chính sứ mạng của Ḍng, được phát biểu qua các phương
châm: Veritas, và Contemplata aliis tradere.
1/ Việc truy tầm chân lư không những thúc đẩy ḷng say mê học hỏi đạo lư, nhưng
c̣n tạo ra tinh thần tôn trọng thực tại khách thể (tránh những cảm xúc chủ quan).
Việc truy tầm chân lư đôi lúc đă gây ra sự bất bao dung đối với kẻ "lạc đường".
Tuy nhiên, nếu ai trung thành với thánh Tôma th́ sẽ biết nh́n nhận những "mầm
chân lư" bất cứ từ đâu đến: đó là tinh thần đối thọai.
2/ Người tu sĩ Đa Minh không t́m kiếm chân lư cho riêng ḿnh. Ḍng Đa Minh không
phải là Ḍng đan tu. Người tu sĩ Đa Minh muốn thông truyền cho tha nhân điều
ḿnh đă chiêm niệm. Chiêm niệm và họat động không phải là hai "th́" kế tiếp nhau,
nhưng họp nên một thực tại duy nhất. Việc chiêm niệm mang chiều hướng tông đồ,
và việc chiêm niệm vẫn không bị gián đọan đang khi làm việc tông đồ.
3/ Lư tưởng của Ḍng được ấp ủ nhờ cả một nếp sống: kinh nguyện phụng vụ, học
vấn, kỷ luật (trong đó có sự khó nghèo), các cơ chế pháp luật (gồm cả định chế "miễn
chuẩn", cũng như tầm quan trọng của các công hội).
Thọat tiên xem ra đơn giản, nhưng lịch sử cho thấy rất khó duy tŕ sự thăng bằng:
thăng bằng giữa chiêm niệm với hoạt động, thăng bằng giữa sinh họat cộng đ̣an
với công tác ng̣ai tu viện, thăng bằng giữa miễn chuẩn với tháo thứ...
Dù sao, nói ǵ th́ nói, linh đạo của Ḍng Đa Minh không phải là một mớ lư thuyết
nhưng đă được mang ra thực hành bởi biết bao nhiêu anh chị em, cách rieng nơi
các thánh của Ḍng, mà chúng ta có thể học hỏi mẫu gương nhờ cuộc đời và các bút
tích của họ. Chúng ta thành thực cám ơn lớp tập 1997-98 đă thực hiện quyển Đám
mây nhân chứng để cung cấp cho gia đ́nh Đa Minh Việt Nam một khái niệm về các
thánh Ḍng. Tôi xin bổ túc với hai phụ trương: tiêu chuẩn xếp lọai; các thánh
mới.
Phụ trương I. Xếp lọai các chân phúc và hiển thánh Ḍng Đa Minh.
Có nhiều tiêu chuẩn để xếp hạng các thánh nhân của Ḍng.
1/ Tiêu chuẩn lịch phụng vụ, xếp theo các ngày lễ kính trong năm. Đám mây nhân
chứng dựa theo tiêu chuẩn này. Nên biết là thường các lễ kính dựa theo ngày "sinh
nhật" (dies natalis), sinh vào Nước trời, mặc dù đối với sổ hộ tịch dân sự th́
đó là ngày khai tử.
2/ Tiêu chuẩn lịch sử: dựa theo các thế kỷ, với những đặc trưng đă nói trong bài
này. Trong Catalogus hagiographicus Ordinis Predicatorum (Analecta SOP anno 96,
fasc.I, 1988), chúng ta thấy sự phân chia theo tiêu chuẩn thế kỷ: thế kỷ XIII (số
1-32); thế kỷ XIV (số 33-54); thế kỷ XV (số 55-83); thế kỷ XVI (số 84-98); thế
kỷ XVII (số 99-106), thế kỷ XVIII (số 107-111); thế kỷ XIX (số 112-115); thế kỷ
XX (số 116). Tuy nhiên tổng cộng là 251 hiển thánh và chân phước (bởi v́ có
những số bao hàm một nhóm đông, chẳng hạn như trường hợp các đồng bạn tử đạo).
Đó là tổng số tính đến năm 1988. Từ đó đến nay, cần phải thêm nữa (xem phụ lục
II).
3/ Tiêu chuẩn địa lư: dựa theo nguyên quán của các vị (Italia, Pháp, Tây ban
nha, Đức, Việt nam, vv.)
4/ Tiêu chuẩn "nghề nghiệp": giáo ḥang, giám mục, bề trên, nhà thần học, nhà
giảng thuyết, nhà truyền giáo, trợ sĩ, sinh viên (được bao nhiêu?), nữ tu, giáo
dân, vv. Mỗi người chúng ta chỉ có thể bắt chước một tấm gương nào đó, chứ không
thể ôm đồm hết được. Nên ghi nhận là trong số các thánh của "Gia đ́nh Đa Minh",
đừng kể các thánh tử đạo Việt nam, c̣n hai linh mục Ḍng Ba (Louis M. Grignion
de Montfort, 1673-1716; Augustinus Schoeffler, 1822-1851), và hai giáo dân rất
gần với thời đại chúng ta (Bartolo Longo, 1841-1926; Pier Giorgio Frassati,
1901-1925).
5/ Những tiêu chuẩn vừa rồi xem ra vẫn c̣n nặng tính cách xă hội học. Cha
Ambrose Gardeil c̣n đề ra một tiêu chuẩn mang tích cách thần học hơn, đó là dựa
theo 7 ơn Chúa Thánh Thần (Les dons du Saint Esprit dans les saints dominicains,
Paris 1903).
- Ơn kính sợ: Luis Beltran, Vicentê Ferrer, Rosa Lima
- Ơn dũng cảm: Catarina Ricci, Gioan Colonia, Phêrô Vêrôna, (Các thánh tử đạo Việt Nam?)
- Ơn sùng hiếu: Agnes Montepulciano, Piô V, Raymunđô Penafort
- Ơn chỉ giáo: Antôninô
- Ơn thông hiểu: Đa Minh, Giaxintô
- Ơn thông minh: Catarina Siena
- Ơn khôn ngoan (thượng trí): Tôma Aquinô.
Theo chiều hướng đó, tại sao không phân tích các chân phúc của Ḍng dựa theo các
mối phúc thật?
Phụ trương II. Những cuộc phong chân phước (và hiển thánh) cho các phần
tử thuộc Gia đ́nh Đa Minh dưới thời đức Gioan Phaolô II (1978-)
Trong tháng 4 này, chúng ta sẽ kỷ niệm 25 năm giải phóng đất nước. Dù nói tốt
hoặc nói xấu về biến cố này đi nữa, thực tế là từ hồi đó việc "giao lưu văn hóa"
với thế giới bên ng̣ai đă bị hạn chế. Chắc là nhiều anh chị em không theo dơi
được hết các cuộc phong chân phước và hiển thánh của Ḍng. Kể cả Đám mây nhân
chứng cũng chưa đuổi kịp! Để cập nhật hóa, xin ghi danh tánh các vị được đặt lên
bàn thờ dưới thời vị đương kim Giáo ḥang, cùng với ngày phong chân phước (hay
phong thánh), năm qua đời, lễ kính.
A. Chân phước
- (24/2/1979) Margarita Ebner (k.1291-1351), confirmatio cultus, lễ kính 20/6
- (29/4/1979) Francesco Coll (1812-1875), lễ kính 19/5
- (26/10/1926) Bartolomeo Longo giáo dân (1841-1926), lễ kính 6/10
- (3/10/1982) Giovanni de Fiesole, Beato Angelico (+1451), lễ kính 18/2
- (2/2/1985) Anna de los Angeles Monteagudo (1602-1686), lễ kính 10/1
- (18/2/1981) Domingo Ibanez và đồng bạn tử đạo (+1633-37), lễ kính 28/9
- (25/11/1987) Robert Nutter tử đạo (1557-1600), lễ kính 27/7
- (20/5/1990) Pier giorgio Frassati, giáo dân (1901-1925), lễ kính 4/7
- (27/9/1992) Terence Albert O' Brien (+1651) và Peter Higgins (1642), tử đạo, lễ kính 30/10.
- (20/11/1994) Hyacinthe Cormier (1832-1916), lễ kính 21/5; Agnès de Jésus Galand (1602-1634), lễ kính 19/10; Marie Poussepin (1653-1744), lễ kính 14/10
- (10/10/1995) Jean Georges Rehm (1752-1794) tử đạo, lễ kính 12/8
- (24/11/1996) Catherine Jarrige (1754-1836), lễ kính 4/7
- (13/6/1999). Trong số 107 chân phước bị Đức Quốc xă sát hại trong thời Đệ nhị thế chiến, được Đức Gioan Phaolô II tôn vinh ngày 13/6/1999 tại Varsavia có 2 tu sĩ Đa Minh: 1/ Linh mục Michal Czartoryski. Sinh ngày 19/2/1897, vào ḍng năm 1927, thụ phong linh mục năm 1931, làm giám sư các tập sinh và sinh viên tại Cracovia từ 1937 đến 1939. Bị quân Quốc xăbắn ngày 6/9/1944 v́ đă giúp đỡ tinh thần cho các người bị thương và hấp hối trong cuộc nổi dậy ở Varsavia. 2/ Nữ tu Julia Rodzinska, sinh ngày 16/3/1899, mồ côi cha mẹ từ khi lên 8 và 10 tuổi, vào tập viện năm 18 tuổi. Năm 1922 chị được gửi đi làm giáo viên tại Vilnius (Lituania), và năm 1934, trở thành giám đốc một cô nhi viện mồ, được đặt tên là "bà mẹ các trẻ mồ côi". Chị bị bắt ngày 12/7/1943, và bị chuyển về Stutthof gần Danzig (số tù là 40992) chết trong trại tập trung Stutthof ngày 20/2/1945, v́ bị mắc bệnh tifo khi đi giúp đỡ các nữ tù nhân Do thái. (Xem IDI số tháng 4 năm 1999)
B. Hiển thánh
- (18/10/1987) Tử đạo Nhật bản (được phong chân phước hồi 1981), lễ kính 28/9.
- (19/6/1988) Tử đạo Việt Nam, lễ kính 24/11.
- (2/5/1995) Zedislava (k.1220-1252), lễ kính 4/1.
- (1/10/2000?) Tử đạo Trung hoa. Ḍng Đa Minh có 6 vị thừa sai Tây ban nha: + 2 giám mục: Petrus Martyr Sanz (1680-1747), Franciscus Serrano (1695-1748); + 4 linh mục: Franciscus Fernandez de Capillas (1607-1648), vị tử đạo tiên khởi tại Trung quốc; Joachimus Royo (1691-1748); Joannes Alcober (1694-1748), Franciscus Diaz (1713-1748).
Phan Tấn Thành