VIỆC HỌC HỎI CỦA NGƯỜI GIÁO DÂN ĐA MINH
1. Trong các bài trước, chúng ta
đă học được ba "cột trụ" được coi như ba phương tiện chính yếu để sống ơn gọi Đa
Minh là sống cộng đoàn, tinh thần cầu nguyện, tinh thần khổ chế mà thánh Đa Minh
đă lấy lại từ truyền thống đan viện và thích nghi những điều đó cho phù hợp với
mục tiêu của Ḍng là giảng thuyết và cứu độ các linh hồn. Ngoài ra, c̣n một "cột
trụ" nữa được coi như một điều mới lạ hoàn toàn trong Giáo hội và các ḍng tu
thời đó mà Thánh Đa Minh đă đem vào trong Ḍng, đó là việc học hành. Đối với một
ḍng được thành lập để giảng thuyết và bảo vệ đức tin, th́ sự học hỏi thần học
không thể không trở thành một phương tiện thiết yếu cho các nhà giảng thuyết
tương lai. Thánh Đa Minh đă thay thế công tác lao động chân tay bằng nghĩa vụ
học hành và đó chỉ là một hệ quả tất nhiên của mục tiêu mới mà Thánh Đa Minh đă
muốn mang lại cho Ḍng ḿnh : "Theo Hiến pháp cổ truyền, các anh em phải học
ngày đêm, ở nhà cũng như khi đi đường, phải cố gắng đọc hay suy gẫm một điều ǵ
đó và phải cố gắng nhớ lại trong kư ức."
2. Để có thể thích hợp với Ḍng, các hội viên Ḍng Ba cũng cần phải đặt ra cho
ḿnh một nghĩa vụ học hành những chân lư mà họ cần phải thông truyền và giảng
dạy lại cho người khác. Bản luật đầu tiên tuy không nói rơ ràng về sự học hành
của thành viên, lư do v́ vào lúc đó đa số giáo dân c̣n t́nh trạng mù chữ. Tuy
vậy,
nghĩa vụ học hành cũng được hiểu ngậm khi bản luật buộc các thành viên phải năng
tham dự các buổi họp của Huynh Đoàn để nghe các tu sĩ giảng dạy và chúng ta có
thể thấy đây là một sự học bằng cách nghe hơn là bằng sách vở, một điều mà vào
thời đó không thể thực hiện được.
3. Măi đến thời đại chúng ta bản luật Ḍng Ba mới truyền đưa việc học hành vào
bản luật, chẳng hạn vào năm 1964 bản luật đă viết như sau : "Trong tinh thần của
Anh em thuyết giáo, các hội viên ḍng ba hăy nhiệt tâm học hành chân lư, dưới sự
hướng dẫn của Thánh Tô-Ma, tùy theo khả năng của họ, để mà đạt tới sự chiêm niệm
phong phú hơn và thi hành việc tông đồ chân lư là điều riêng của họ. Cách riêng,
các hội viên ḍng ba hăy chú tâm t́m hiểu học thuyết xă hội của Giáo Hội" . Bản
Luật Sống hiện tại cũng lặp lại những điều đó : "Là thành viên của Ḍng, chúng
ta tham dự vào sứ vụ tông đồ của ḍng bằng việc học hành ?." ( số 4) và "Giáo
dân Đa Minh chuyên cần học hỏi chân lư và luôn suy tư về những vấn đề thời đại
dưới ánh sáng Đức Tin" (số 10). Để làm được việc này, Ḍng nhờ hay gởi gắm mỗi
Huynh Đoàn cho một vị linh hướng để thường xuyên huấn luyện các thành viên trong
vấn đề đạo lư và đời sống thiêng liêng (số 21c) trong đó nhấn mạnh đến việc đào
tạo văn hóa và học vấn.
4. Luật Riêng của Huynh Đoàn Giáo Dân Việt Nam chúng ta cũng nói về việc học một
cách chi tiết hơn. Thứ nhất : theo gương các tu sĩ Đa Minh trong mỗi tu viện có
một vị khuyến học, mỗi Huynh Đoàn cũng phải có một vị huấn đức, vị này có nhiệm
vụ tạo cơ hội và khuyến khích mọi người - nhất là những anh chị em trong thời
gian huấn luyện - tích cực tham gia những buổi học hỏi và trao đổi. Thứ hai :
Luật Sống đưa ra một chương tŕnh huấn luyện tiến cấp qua các giai đoạn huấn
luyện để học hỏi về Lời Chúa, giáo lư Hội Thánh, ơn gọi và sứ mạng của người
giáo dân theo ánh sáng của đoàn sủng Thánh Đa Minh và Thánh nữ Ca-ta-ri-na, về
tinh thần ḍng, những dấu chỉ thời đại?? Thứ ba: trước khi bước vào một giai
đoạn mới, mỗi thành viên đều phải qua một cuộc khảo hạch (số 46,48,67). Thứ tư :
theo gương các tu sĩ Đa Minh, người giáo dân cũng phải quí chuộng việc học hành
và phải khắc phục khi gặp khó khăn, v́ theo tinh thần ḍng, đó là một h́nh thức
khổ chế thực sự (số 21) hơn là việc ăn chay đánh tội như ngày xưa.Ngoài ra, mỗi
Huynh Đoàn nên có một tủ sách để các thành viên có thể nghiên cứu học hỏi thêm
để có thể sống đúng và thi hành ơn gọi của ḿnh.
Tóm lại, người giáo dân Đa minh cần phải trở thành không những là một con người
cầu nguyện mà c̣n là một con người học hỏi nữa. Nét khác biệt giữa Huynh Đoàn
Giáo Dân Đa Minh với các tập thể ở chỗ chúng ta là một cộng đoàn học hỏi. Nhờ
việc học hỏi Kinh Thánh và giáo lư và các vấn đề thời đại, chúng ta đạt tới sự
hiểu biết Thiên Chúa sâu đậm hơn, cũng như nhận ra tác động của Thiên Chúa trong
lịch sử và trong các linh hồn, nhờ đó mà kinh nguyện, chiêm niệm và công tác
tông đồ được nuôi dưỡng.